Nhìn lại hai năm thực thi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – sự khởi đầu hiệu quả và nhiều thách thức 19-07-2013

Nhìn lại hai năm thực thi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng – sự khởi đầu hiệu quả và nhiều thách thức

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được Quốc hội khóa 12 thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 17 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Sau hai năm thực thi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chúng ta đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đây là thành quả bước đầu trong mục tiêu xã hội hóa công tác bảo vệ NTD trước xu thế tiêu dùng ngày càng văn minh, hiện đại.

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được Quốc hội khóa 12 thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 17 tháng 11 năm 2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Sau hai năm thực thi Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, chúng ta đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Đây là thành quả bước đầu trong mục tiêu xã hội hóa công tác bảo vệ NTD trước xu thế tiêu dùng ngày càng văn minh, hiện đại.

Ngày 11 tháng 7 vừa qua, Cục Quản lý cạnh tranh, Bộ Công Thương đã phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức thành công buổi hội thảo “Nhìn lại hai năm thực thi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” tại thành phố Hồ Chí Minh. Chủ trì hội thảo này, ông Nguyễn Phương Nam – Phó Cục trưởng Cục QLCT đã tái hiện lại chặng đường 2 năm qua kể từ khi Luật Bảo vệ quyền lợi NTD có hiệu lực. Tham dự Hội thảo còn có đại diện của VCCI, các Sở, Ban, Ngành liên quan tại thành phố Hồ Chí Minh, đại diện các tổ chức XH tham gia bảo vệ NTD các tỉnh thành phía Nam, các học giả, giảng viên các trường đại học kinh tế, luật, hội luật gia thành phố Hồ Chí Minh, Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đại diện các Doanh nghiệp, người tiêu dùng và đông đảo cơ quan báo chí, truyền hình.

Cùng với những biến đổi đa dạng của xu thế tiêu dùng trong xã hội hiện đại, hệ thống pháp luật về bảo vệ NTD đã bước đầu đi vào cuộc sống, xác lập được sự ổn định trong quan hệ giữa NTD với các tổ chức, cá nhân kinh doanh, hình thành được nền tảng tư duy mới mẻ trong công tác quản lý nhà nước về bảo vệ NTD và thiết lập được vị thế các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ NTD, hướng tới mục tiêu xã hội hóa công tác bảo vệ NTD.

Tại hội thảo lần này, một số doanh nghiệp năng động trên thị trường đã chủ động tham dự và gửi báo cáo, tham luận. Trong đó phải kể đến Tổng công ty Công nghiệp dầu thực vật Việt Nam – Công ty TNHH một thành viên (Vocarimex) và Trung tâm Thông tin di động khu vực II (TT2) với thương hiệu Mobifone đã tài trợ cho hội thảo và tham gia báo cáo kết quả kinh doanh gắn với công tác bảo vệ người tiêu dùng của doanh nghiệp.

Dưới đây là bức tranh toàn cảnh công tác bảo vệ NTD 2 năm qua:

1. Công tác quản lý NN về bảo vệ NTD chuyên nghiệp và hiệu quả

1.1. Đẩy mạnh công tác xây dựng văn bản PL hướng dẫn thi hành Luật

 Để các quy định của Luật đi vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu thực tiễn của một xã hội tiêu dùng đang trỗi dậy ở VN và tiệm cận với các quy định quốc tế về bảo vệ NTD, việc ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành Luật là một yêu cầu cấp thiết.

 Ngay sau khi Luật ra đời, Bộ Công Thương đã triển khai các hoạt động xây dựng văn bản hướng dẫn thi hành Luật

a) Nghị định số 99/2011/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 12 năm 2011.

b) Nghị định số 19/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 5 năm 2012.

c) Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 13 tháng 01 năm 2012 về việc ban hành danh mục hàng hóa, dịch vụ thiết yếu phải đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 3 năm 2012

d) Thông tư số 10/2013/TT-BCT ngày 30 tháng 5 năm 2013 ban hành mẫu đơn đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.

e)  Hiện tại, Bộ Công Thương cũng đang phối hợp với Bộ Nội vụ xây dựng Thông tư liên tịch, bổ sung và thay thế TT 07 nhằm nhanh chóng kiện toàn bộ phận chuyên trách về Bảo vệ NTD và cạnh tranh trong bộ máy QLNN tại địa phương.

            Như vậy, nhiệm vụ quan trọng và mang tính vĩ mô về QLNN sau khi Luật có hiệu lực đã cơ bản hoàn thành. Các văn bản hướng dẫn thi hành Luật không chỉ tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động bảo vệ người tiêu dùng mà còn đưa các quy định của Luật đi vào thực tiễn cuộc sống.

            1.2. Tuyên truyền, phổ biến Luật và văn bản hướng dẫn đã được triển khai rộng rãi, hướng đến trọng tâm chuyên sâu

Bảo vệ quyền lợi NTD là lĩnh vực tác động đến hầu hết các khía cạnh, các chủ thể trong xã hội và mang tính nhân văn sâu sắc. Chính vì vậy, công tác tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật được ưu tiên với mục tiêu triển khai rộng rãi đến các cơ sở, đảm bảo hiệu quả, hình thức phong phú, đa dạng và hướng đến trọng tâm chuyên sâu đối với các đối tượng, các ngành hàng.

Trong 2 năm triển khai,  Bộ Công Thương đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức nhiều hoạt động tuyên truyền với nhiều hình thức và đối tượng khác nhau như: Tổ chức hơn 60 Hội nghị, Hội thảo, 20 lớp tập huấn cho các cán bộ, công chức trực tiếp thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về bảo vệ quayền lợi người tiêu dùng tại địa phương trên cả nước.

Phối hợp với các Sở Công Thương, các Hội bảo vệ người tiêu dùng địa phương tổ chức hơn 30 hội nghị tuyên truyền phổ biến pháp luật cho các doanh nghiệp, người tiêu dùng trên địa bàn tỉnh; phối hợp với các phương tiện thông tin đại chúng thực hiện các phóng sự, đăng tải các bài viết, phỏng vấn đề người dân hiểu các quay định của Luật. Công tác tuyên truyền, phổ biến PL về bảo vệ NTD được đưa tới các Trung tâm thương mại, Hội chợ, chợ dân sinh bằng nhiều hình thức dễ tiếp nhận hơn như phát tờ rơi, sách báo, ấn phẩm… đến tận tay NTD.

Trong dịp kỷ niệm “Ngày quyền của người tiêu dùng Thế giới 15 – 3” hàng năm Bộ Công Thương đã có văn bản chỉ đạo đồng thời chủ động phối hợp với Sở Công Thương các tỉnh, thành phố trên cả nước thực hiện các hoạt động cần thiết để tuyên truyền, phổ biến các quay định của Luật, nâng cao nhận thức của xã hội đối với công tác bảo vệ quayền lợi người tiêu dùng. Năm 2012 có 44/63 tỉnh, thành phố, năm 2013 có 55/63 tỉnh thành phố tích cực hưởng ứng hoạt động này với nhiều hình thức tuyên truyền, phố biến khác nhau như: tổ chức Hội nghị, Hội thảo, treo biểu ngữ khẩu hiệu, tổ chức mitting, tuần hành…

Đặc biệt, cuối năm 2012 và đầu năm 2013 đến nay, công tác tuyên truyền được tập trung chuyên sâu tới từng ngành hàng thiết yếu với đời sống dân sinh. Những chương trình tập huấn trọng điểm tới từng ngành hàng, từng đối tượng cụ thể đã bước đầu đạt hiệu quả, một mặt nâng cao được kiến thức pháp luật cho các cá nhân, tổ chức kinh doanh, người tiêu dùng, một mặt đảm bảo sự tuân thủ pháp luật và dần thiết lập sự bình đẳng trong mối quan hệ giữa NTD với các DN.

Dưới sự chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Công Thương, UBND các tỉnh thành phố trên cả nước, công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về Bảo vệ NTD tới từng cơ sở, từng đối tượng trọng điểm đã được thực hiện xuyên suốt, đạt hiệu quả cao và nhận được sự tin tưởng của NTD cũng như các tổ chức xã hội.

1.3. Kiểm soát Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung

Ngay sau khi Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg được ban hành, công tác Kiểm soát Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung đã được triển khai kịp thời trên toàn quốc.

Bộ Công Thương đã xây dựng và áp dụng Quy trình đăng ký HĐ theo mẫu, điều kiện giao dịch chung kèm theo 6 mẫu văn bản cần thiết để triển khai việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký và hướng dẫn cho các địa phương.

Cục QLCT liên tục đôn đốc, chỉ đạo và hướng dẫn các cán bộ công chức địa phương về công tác Kiểm soát HĐ theo mẫu, điều kiện giao dịch chung.

Cho đến cuối tháng 5 năm 2013 đã có 138 bộ hồ sơ đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung (theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ quy định tại Quyết định số 02/2012/QĐ-TTg) được đăng ký tại Cục Quản lý cạnh tranh. Đặc biệt, nhiều Tổng Công ty, Tập đoàn lớn như: Tổng Công ty Hàng không Việt Nam, Tổng Công ty Đường sắt Việt Nam, Tập đoàn Điện lực, Tập đoàn Viễn Thông Quân đội, Tập đoàn Hòa Phát,...đã thực hiện việc đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung một cách nghiêm túc.

Trên trang thông tin điện tử riêng về bảo vệ NTD, Cục QLCT cho đăng tải các hợp đồng đã được chấp nhận để các doanh nghiệp tham khảo, người tiêu dùng giám sát thực hiện của các doanh nghiệp đã đăng ký.

Tại các địa phương, Sở Công Thương các tỉnh cũng đang tích cực yêu cầu các doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn tiến hành đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung. Thông qua hoạt động này, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã phát hiện và kịp thời yêu cầu doanh nghiệp chỉnh sửa nhiều nội dung không phù hợp với Luật có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi người tiêu dùng.

Những lĩnh vực có tác động trực tiếp đến quyền lợi của NTD trong nền kinh tế thị trường như mua bán căn hộ chung cư, truyền hình trả tiền, điện, nước, điện thoại cố định, di động trả trước, vận tải hàng không… được kiểm soát chặt chẽ. Phần lớn các nội dung vi phạm quyền lợi NTD đã được loại bỏ, tạo nên sự thay đổi đáng kể theo hướng cân bằng lợi ích và bảo vệ tối đa quyền của bên thứ yếu là người tiêu dùng trong giao dịch với cá nhân, tổ chức kinh doanh đồng thời nâng cao ý thức tuân thủ PL của các DN.

1.4. Đưa vào vận hành hệ thống tiếp nhận và giải quyết phản ánh của NTD

Công tác tư vấn, tiếp nhận và giải quyết các phản ánh, khiếu nại cho người tiêu dùng là hoạt động cần thiết nhất, có tác động trực tiếp đến đời sống và sự lựa chọn tiêu dùng hàng ngày. Đây cũng là một trong những biện pháp thiết thực nhằm nâng cao nhận thức của các tổ chức, cá nhân kinh doanh và cả người tiêu dùng đồng thời góp phần đưa những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống.

Bộ Công Thương đã xây dựng và vận hành thành công Hệ thống tiếp nhận phản ánh của người tiêu dùng bằng điện thoại (Call Center). Hệ thống này không chỉ tiếp nhận các thông tin phản ánh của NTD mà còn là kênh tư vấn cho NTD trước khi quyết định tham gia giao dịch mua bán hàng hóa.

Cục Quản lý cạnh tranh cũng đã xây dựng và chạy thử nghiệm trang thông tin điện tử riêng về bảo vệ người tiêu dùng tại đường Link: http://bvntd.vca.gov.vn.

Tại các địa phương trên toàn quốc, đặc biệt là các thành phố lớn như Hà Nội, Tp. Hồ Chí Minh... đã lần lượt đưa hệ thống tiếp nhận thông tin của NTD, tư vấn mua sắm và giải quyết các khiếu nại của NTD trên địa bàn. Đây là hình thức bảo vệ NTD nhanh chóng và hiệu quả nhất đồng thời gia tăng niềm tin của người tiêu dùng đối với cơ quan QLNN và các tổ chức XH bảo vệ NTD.

2. Hoạt động của các tổ chức tham gia công tác bảo vệ quyền lợi NTD có nhiều chuyển biến tích cực

Trong  2 năm thi hành Luật  các hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trên toàn quốc mỗi năm giải quyết được khoảng 2000 vụ với tỉ lệ thành công là từ 80-82%, một số hội như Hải Phòng, Hà Tĩnh, Kiên Giang tỉ lệ giải quyết thành công lên đến 90%.

Về công tác phát triển hội cho đến nay trên cả nước đã có 47 hội ở các tỉnh, 01 hội hoạt động trên phạm vi cả nước. Nhờ hoạt động tích cực trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, cho đến nay đã có 07 Hội đã được công nhận là hội đặc thù, bao gồm: Bình Dương, Tiền Giang, Đồng Tháp, Khánh Hòa, Đak Lak, Cà Mau, Bến Tre. Ngoài ra, tại nhiều địa phương công tác phát triển hội đã được triển khai đến cấp huyện, xã như Tiền Giang, Kiên Giang, Hà Tĩnh... Đặc biệt Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam (Vinastas) là hội có phạm vi hoạt động trên cả nước đã có những hoạt động hết sức tích cực trong công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

3. Những hạn chế, tồn tại

Chúng ta bước đầu đã đưa vào cuộc sống một hệ thống các văn bản pháp luật về bảo vệ NTD khá hoàn chỉnh, tuy nhiên, trước đòi hỏi đa chiều của thực tiễn cuộc sống, trước những khó khăn của nền kinh tế hiện tại dẫn đến việc nảy sinh những hệ quả phức tạp trong mối quan hệ giữa các yếu tố khách quan và chủ quan khiến công tác bảo vệ NTD còn đối mặt với khá nhiều khó khăn, hạn chế.

Thực tế cho thấy, trong 2 năm thực thi Luật bảo vệ quyền lợi NTD đã xuất hiện những “chướng ngại vật„ ngay trong bản thân hệ thống pháp luật về bảo vệ NTD và những quy định liên quan khác. Đó là sự nhận thức khác nhau trong các cơ quan giải quyết yêu cầu của NTD dẫn đến ảnh hưởng tới quyền lợi hợp pháp của họ. Đó là những vướng mắc trong hệ thống tổ chức bộ máy nhân sự và sự phân công công tác chuyên môn thiếu đồng nhất tại các địa phương. Đó là vấn đề thiếu ngân sách hoạt động không chỉ đối với cơ quan bảo vệ NTD trung ương mà còn khiến hoạt động của các tổ chức tham gia bảo vệ NTD gần như không triển khai được hoặc thiếu hiệu quả.

3.1. Thủ tục đơn giản giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức cá nhân kinh doanh chưa được hướng dẫn triển khai cụ thể

            Hòa giải là phương thức được sử dụng rộng rãi hơn, chiếm 80% các vụ việc khiếu nại của người tiêu dùng. Tuy nhiên, kết quả hòa giải nhiều khi không được các bên nghêm túc thực thi do giá trị pháp lý của biên bản hòa giải thành là không cao.

            Phương thức Trọng tài và Tòa án không được nhiều người tiêu dùng lựa chọn do thủ tục phức tạp, thời gian giải quyết vụ việc lâu, lệ phí cao trong khi giá trị các vụ việc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng là thấp. Quy định về NTD khởi kiện vụ án dân sự đế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình không phải nộp tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí Tòa án đang bị chính các cơ quan Tư pháp hiểu sai lệch.

Tại thành phố Hồ Chí Minh, một số NTD đã khởi kiện hoặc đề nghị Tổ chức XH tham gia bảo vệ NTD thay mặt mình khởi kiện tại Tòa án cấp huyện/quận nhưng các cơ quan Tư pháp này từ chối quyền được miễn tạm ứng án phí khiến NTD phải rút đơn, vụ án không được thụ lý.

         Thủ tục đơn giản tại Tòa án đối với vụ án dân sự về bảo vệ NTD chưa có bất kỳ hướng dẫn nào của Tòa án nhân dân tối cao. Vì vậy, quy định này vẫn chưa được triển khai trên thực tế.

3.2. Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tại địa phương thiếu đồng nhất, nguồn lực hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại các cơ quan cấp huyện hầu như không có.

Về tổ chức bộ máy:

Hiện nay các Sở Công Thương của các tỉnh thành trên cả nước chưa có sự đồng nhất về việc giao nhiệm vụ bảo vệ NTD cho một đơn vị cấp phòng chuyên môn nào. Có Sở giao cho Phòng Quản lý Thương mại, có Sở giao cho Phòng Kinh tế hoặc cho Quản lý thị trường...Sự thiếu một đầu mối thống nhất về mặt chuyên môn này dẫn đến những khó khăn trong quản lý và phối hợp công việc.

Về nhân lực:

Nguồn lực dành cho công tác này đến nay vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tiễn đề ra. Hầu hết các Sở Công Thương chưa có một bộ phận, thậm chí là một cán bộ chuyên trách thực hiện chức năng BVNTD. Về phía các cơ quan cấp huyện, Luật bảo vệ quyền lợi NTD đã đặt ra nghĩa vụ giải quyết yêu cầu cho NTD thuộc thẩm quyền của cơ quan này nhưng thực tế thì hầu hết các cơ quan cấp huyện trên cả nước hiện nay chưa có bộ phận nào đảm trách công việc này.

Về tài chính:

Bên cạnh việc chưa được phân công bố trí cán bộ thực thi công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thì tại các địa phương vẫn chưa chủ động giành nguồn kinh phí hợp lý cho hoạt động này.

Tại các địa phương hầu như chưa nhận được nhiều sự quan tâm của các cá nhân tổ chức hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trừ thành phố Hà Nội, Hồ Chí Minh.

3.3. Cơ quan bảo vệ NTD ở Trung ương còn nhiều khó khăn

- Đội ngũ cán bộ của Ban Bảo vệ người tiêu dùng hết sức mỏng, mặc dù có nhiều cố gắng nhưng có nhiều biến động về nhân sự.

- Nguồn lực và cơ sở vật chất cho công tác bảo vệ người tiêu dùng còn sơ sài.

- Nguồn lực hỗ trợ cho hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn nhiều hạn chế, đặc biệt là kinh phí tổ chức triển khai công tác bảo vệ NTD.

3.4. Việc hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn nhiều bất cập

Các tổ chức xã hội tham gia và hoạt động bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung và các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng nói riêng là cánh tay nối dài của cơ quan nhà nước trong công tác quản lý.

Khác với các tổ chức khác, các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng không có nguồn thu từ hội phí của hội viên cũng như không có nguồn thu nào ổn định.

Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã quy định về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, được giao thực hiện một số nhiệm vụ gắn với nhiệm vụ của Nhà nước và được hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước. Bộ Tài chính cũng đã ban hành Thông tư số 01/2011/TT-BTC ngày 06 tháng 01 năm 2011 quy định việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho hội có hoạt động gắn với nhiệm vụ của nhà nước giao. Tuy nhiên, cho đến thời điểm này việc triển khai các quy định nói trên vẫn gặp lúng túng và các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng vẫn phải đối mặt với nhiều khó khăn trong quá trình hoạt động.

Thêm nữa, quy định về cấp ngân sách cho các tổ chức XH tham gia hoạt động bảo vệ NTD hiện nay chưa có một trình tự, kế hoạch chặt chẽ. Điều này được minh chứng bởi việc cấp ngân sách cho các tổ chức XH này nhưng chưa hình thành được dự toán chi phí cho các hoạt động cụ thể, chưa xây dựng được những đề án, kế hoạch họat động và đánh giá hiệu quả hoạt động. Chính vì thế hoạt động của các tổ chức XH tham gia bảo vệ NTD đã có nhưng tính chủ động chưa cao.

4.     Kết luận

Sau hai năm Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có hiệu lực, các quy định của Luật đã đi vào cuộc sống, nhận thức về bảo vệ NTD được nâng lên một bước.

Công tác quản lý NN về Bảo vệ NTD từ trung ương tới địa phương đã được quan tâm và hướng đến sự chuyên nghiệp, hiệu quả.

Các tổ chức XH tham gia công tác bảo vệ NTD đã dần hình thành tới tận các cơ sở, mở rộng hoạt động và bắt đầu có tiếng nói trong cộng đồng. Hoạt động của các Hội đã phong phú hơn, biết tranh thủ sự hỗ trợ không chỉ cơ quan quản lý nhà nước mà còn của các cá nhân tổ chức kinh doanh để triển khai hoạt động bảo vệ người tiêu dùng

Các cá nhân, tổ chức kinh doanh đã có ý thức tuân thủ pháp luật, nhiều doanh nghiệp chủ động thu hồi hàng hóa có khuyết tật, chủ động đăng ký hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung với cơ quan quản lý nhà nước.

Công tác bảo vệ người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường đang được xã hội hóa theo yêu cầu của thực tiễn.

Nhận thức của NTD đã từng bước được nâng cao, thông qua công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật và các phương tiện truyền thông NTD đã bước đầu biết đến và đặt niềm tin vào các cơ quan, tổ chức xã hội bảo vệ NTD.

5.     Một số kiến nghị, đề xuất từ phía Sở Công Thương và các tổ chức XH

            Trong quá trình thực thi Luật Bảo vệ quyền lợi NTD, các cán bộ Sở Công Thương, cán bộ các tổ chức XH tham gia bảo vệ NTD là những người gần nhất, trực tiếp nhất với NTD tại các địa phương. Chính vì vậy, những kiến nghị, đề xuất từ phía những đối tượng này phản ánh đúng bản chất những vấn đề nan giải, tồn tại mà qua công tác thực tiễn nảy sinh:

- Ban hành Thông tư liên tịch giữa Bộ Tư pháp – Bộ Công thương và Toà án nhân dân tối cao về trình tự, thủ tục cụ thể cho giải quyết đơn kiện của NTD tại Tòa án theo thủ tục đơn giản.

- Xây dựng Nghị định quy định về giải quyết tranh chấp của NTD bằng phương thức hòa giải. Đưa vấn đề hòa giải và thủ tục Trọng tài vào hợp đồng, giao kết giữa NTD với các tổ chức, cá nhân kinh doanh.

- Hình thành các nguồn quỹ bảo vệ NTD. Tạo ra cơ chế phối hợp giữa tổ chức XH tham gia bảo vệ NTD với Hội luật gia các địa phương để tranh thủ sự trợ giúp pháp lý cho NTD và tăng cường hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ NTD.

- Tăng cường các biện pháp hậu kiểm và xử lý những vi phạm trong việc ký kết và thực hiện Hợp đồng theo mẫu, điều kiện giao dịch chung giữa NTD với cá nhân, tổ chức kinh doanh để đảm bảo quyền lợi cho NTD.

- Đẩy mạnh việc tập huấn cho các cán bộ làm công tác bảo vệ NTD tại các địa phương, các cán bộ của Hội và nhanh chóng hoàn thiện bộ máy chuyên môn, thống nhất phân công công việc cho các đơn vị cấp huyện.

6.     Phương hướng hoạt động trong thời gian tới

Trước sự đòi hỏi của thực tiễn trong công tác bảo vệ NTD, nhiệm vụ đặt ra đối với các cơ quan quản lý nhà nước là quan trọng trên hết để tạo môi trường và nền tảng cho mục tiêu xã hội hóa công tác bảo vệ NTD. Trong thời gian tới chúng ta phải nhanh chóng triển khai các công việc sau:

- Hoàn thiện hệ thống pháp luật. Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật bảo vệ NTD ở mức độ chuyên sâu tới các đối tượng có tác động đến NTD.

- Nâng cao năng lực, trình độ cho đội ngũ cán bộ thực thi pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng (Cục QLCT, Sở CT địa phương, Hội TC và BVQLNTD).

- Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, đào tạo, nâng cao nhận thức cho xã hội, doanh nghiệp và người tiêu dùng.

- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế phối hợp, thúc đẩy sự tham gia của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền liên quan, các tổ chức, cá nhân khác trong xã hội vào công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

- Đẩy mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động hợp tác quốc tế, tăng cường các hoạt động hợp tác với các tổ chức quốc tế và các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng các nước trong khu vực và trên thế giới.

Phan Khánh An

  • Tags:

Tìm từ ngày

Tìm đến ngày