Brazil công bố báo cáo rà soát chính sách thương mại giai đoạn 2013-2016 07-08-2017

Brazil công bố báo cáo rà soát chính sách thương mại giai đoạn 2013-2016

Rà soát chính sách thương mại là một nghĩa vụ của tất cả các Thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) được quy định tại các hiệp định của WTO, theo đó các chính sách thương mại và chính sách liên quan khác của các Thành viên WTO được xem xét và đánh giá theo định kỳ, tần suất rà soát tùy vào quy mô của Thành viên đó. Những thay đổi lớn mà có thể ảnh hưởng đến hệ thống thương mại toàn cầu cũng được giám sát.

 Vừa qua WTO đã công bố toàn văn bản Báo cáo rà soát chính sách thương mại lần thứ 7 của Brazil cho giai đoạn rà soát 2013-2016 của Brazil, nền kinh tế lớn thứ 9 trên thế giới (năm 2016) và là nền kinh tế lớn nhất khối các nước Mỹ Latin. Việc rà soát được tiến hành vào các ngày 17 và 19 tháng 7 năm 2017. Nội dung rà soát thương mại được thể hiện trong hai bản báo cáo của Ban Thư ký WTO và của Chính phủ Brazil. Bài viết này tổng hợp nội dung rà soát về chính sách phòng vệ thương mại và giải quyết tranh chấp tại WTO của Brazil trong hai bản báo cáo nêu trên.

1.  Lĩnh vực phòng vệ thương mại

1.1. Brazil là nước sử dụng tích cực các biện pháp phòng vệ thương mại (PVTM), đặc biệt là biện pháp chống bán phá giá (CBPG). Mặc dù số các biện pháp có hiệu lực tăng kể từ năm 2012, nhưng số lượng các biện pháp được áp hàng năm giảm liên tục và đáng kể trong giai đoạn rà soát. Trong giai đoạn rà soát, có 123 vụ điều tra CBPG mới được khởi xướng, và tính đến ngày 31 tháng 12 năm 2016, có 161 biện pháp CBPG có hiệu lực, liên quan tới nhiều lĩnh vực khác nhau (bao gồm 6 biện pháp cam kết giá), tăng từ 87 biện pháp (bao gồm 5 biện pháp cam kết giá) vào cuối tháng 12 năm 2012.[1] Trong thời kỳ này, Brazil đã khởi xướng 4 cuộc điều tra CTC.[2] Không có cuộc điều tra tự vệ nào được khởi xướng và không có biện pháp tự vệ nào được áp dụng tại Brazil trong khoảng thời gian từ tháng 1 năm 2013 đến tháng 1 năm 2017. Vào cuối năm 2016, 44 biện pháp PVTM của Brazil đã có hiệu lực trong hơn 5 năm. Theo các cơ quan điều tra, thị phần của tổng số hàng hóa nhập khẩu của Brazil bị ảnh hưởng bởi các biện pháp PVTM của nước này là 0.76% năm 2013, 0.79% năm 2014, 0.93% năm 2015 và 1.06% năm 2016.

Bảng 1. Hoạt động PVTM của Brazil giai đoạn 2013-2016

 

 

2013

2014

2015

2016

Đơn khiếu nại của doanh nghiệp

72

53

47

..

Các cuộc điều tra ban đầu

 

56

 

 

36

23

12

CBPG

54

 

 

35

23

11

CTC

2

 

 

1

0

1

Các đợt rà soát

11

 

 

9

15

12

CBPG

11

 

 

6

11

11

Chống lẩn tránh thuế

0

 

 

3

4

1

Các biện pháp CBPG tạm thời được áp dụng

6

20

4

4

Các biện pháp chính thức được áp dụng

43

42

36

29

CBPG

 

43

39

35

27

Mở rộng CBPG (Chống lẩn tránh thuế)

0

 

3

1

1

CTC

 

0

0

0

1

Các biện pháp bị đình chỉ vì lợi ích công chúng

6

 

1

3

0

Các biện pháp phản ánh các lý do lợi ích công chúng

0

 

1

3

1

Các biện pháp có hiệu lực (vào ngày 31 tháng 12 năm 2016)

110

134

163

173

CBPG (Chính thức)

106

 

126

155

161

CBPG (tạm thời)

1

2

1

3

 

 

Mở rộng CBPG (Chống lẩn tránh thuế CBPG)

3

6

7

8

Chống trợ cấp

0

0

0

1

*.. Không có

Nguồn: Dữ liệu do cơ quan điều tra Brazil cung cấp

1.2 Ban Thư ký ngoại thương (SECEX) thuộc Bộ Công nghiệp, Ngoại thương và Dịch vụ (MDIC), thông qua đơn vị trực thuộc là Cục PVTM (DECOM), là cơ quan chịu trách nhiệm tiến hành các cuộc điều tra CBPG, CTC và Tự vệ (TV) (Ví dụ, phân tích và tìm chứng cứ)[3]. Việc ra quyết định về việc áp dụng và thay đổi các biện pháp ngẫu nhiên, cũng như là tình trạng thị trường của nước xuất khẩu, vẫn thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng Bộ trưởng của Phòng Ngoại thương (CAMEX), mà có thẩm quyền xem xét các khuyến cáo của DECOM. CAMEX có thể áp thuế tạm thời đối với hàng nhập khẩu từ ngày ra quyết định sơ bộ. Nhóm kỹ thuật nhằm đánh giá lợi ích công cộng (GTIP), được thành lập bởi CAMEX theo Quyết định số 13 ngày 29 tháng 2 năm 2012, vẫn chịu trách nhiệm kiểm tra các yêu cầu để đình chỉ hoặc thay đổi các biện pháp tạm thời hoặc chính thức cũng như không áp dụng các biện pháp CBPG và CTC tạm thời vì lợi ích công cộng.[4] Quyết định số 13 được sửa đổi bởi Quyết định số 27 ngày 29 tháng 4 năm 2015 và bởi Quyết định số 30 ngày 31 tháng 3 năm 2016.

Quyết định số 27 quy định các thủ tục cho sự vận hành của nhóm GTIP. Nó quy định rằng các yêu cầu đình chỉ hoặc thay đổi các biện pháp phải được nộp tới Ban Thư ký Ngoại giao của Bộ Tài chính, đóng vai trò như Ban Thư ký của GTIP theo Quyết định số 30, và phải được chứng minh bằng chứng cứ thực tế và hợp pháp. Hơn nữa, bất cứ thành viên GTIP nào hoặc các cơ quan Chính phủ liên bang khác có thể yêu cầu GTIP đánh giá về bất cứ biện pháp chính thức hoặc cuộc điều tra nào đang tiến hành. Năm 2015, thời hạn để nộp kết luận tới CAMEX cho các cuộc kiểm tra của GTIP đã tăng từ 4 lên 6 tháng (có thể gia hạn một lần cho khoảng thời gian bằng nhau).[5] Tuy nhiên, trong trường hợp một cuộc điều tra đang tiến hành, GTIP sẽ không nộp các kết luận của họ tới CAMEX cho tới khi một khuyến nghị cuối cùng về việc áp dụng các biện pháp tạm thời hay chính thức được nộp tới cơ quan đó. GTIP sẽ phải đưa ra các căn cứ và các lý do ra quyết định. Kể từ khi thành lập GTIP, có 15 vụ việc được khởi xướng và các kết quả như sau:

 

Các biện pháp bị đình chỉ vì lợi ích công cộng

Các biện pháp được áp dụng nhưng với mức thuế khác với khuyến nghị của DECOM vì lý do lợi ích công cộng

2013

6

0

2014

1

1

2015

3

3

2016

0

1

1.3 Trong giai đoạn rà soát, Brazil tiếp tục hiện đại hóa khuôn khổ pháp lý của mình nhằm làm rõ hơn các quy định hiện tại cũng như tăng cường tính minh bạch và khả năng dự đoán được của các cuộc điều tra CBPG. Các sửa đổi khuôn khổ pháp luật chủ yếu được tiến hành kể từ lần rà soát gần đây nhất của Brazil (2013) có liên quan tới việc sử dụng các phương thức điện tử và việc điều tra và áp dụng các biện pháp CBPG. Các sửa đổi luật pháp này đã được thông báo tới WTO và được thảo luận tại Ủy ban về các hành vi CBPG và/hoặc về các biện pháp CTC và TV.[6]

Quá trình hiện đại hóa hệ thống pháp lý bao gồm Nghị định số 8.058 (có hiệu lực từ tháng 10 năm 2013), Nghị định này quy định thủ tục hành chính mới cho việc điều tra và áp dụng các biện pháp CBPG[7] nhằm tăng cường công tác PVTM. Kể từ cuối tháng 7/2015, các thủ tục hành chính liên quan đến các vụ điều tra CBPG đã được tiến hành bằng điện tử. Bên cạnh đó, thay đổi chính trong Nghị định này là việc thiết lập các thủ tục tố tụng chi tiết hơn và quy định thời hạn ngắn hơn cho các vụ điều tra, đưa ra một số quy định mới như việc đánh giá phạm vi và việc quyết định lại, sàng lọc các quy định về rà soát các biện pháp và các vấn đề hiện tại liên quan tới hiệu quả của thuế CBPG. Sự sửa đổi của Nghị định về các cuộc điều tra CTC cũng sẽ nhằm mục đích tương tự.

Ngoài ra, SECEX ban hành một số quyết định thực thi quy định một số thủ tục và những thông tin mà nguyên đơn phải nộp trong từng vụ việc, cụ thể như: việc nộp tài liệu tới DECOM; đề nghị cam kết giá; nộp đơn điều tra CBPG; nộp đơn rà soát chống lẩn tránh thuế; nộp đơn rà soát hoàng hôn; và đánh giá phạm vi.[8] Bên cạnh việc làm rõ một số định nghĩa và việc rà soát (hầu hết là giảm) các thời hạn khác nhau, những thay đổi về quy trình tiếp theo bao gồm:

- việc ra quyết định sơ bộ có tính chất bắt buộc

- các khuyến cáo có tính bắt buộc về áp dụng nguyên tắc mức thuế thấp hơn (lesser duty) cho các công ty có hợp tác đầy đủ trong các cuộc điều tra ban đầu;

- phương pháp xác định giá xuất khẩu khi nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu là các bên liên quan;

- sàng lọc để xác định ngành sản xuất trong nước (ví dụ, khả năng loại trừ các bên có liên kết với nhà sản xuất nước ngoài, các tiểu vùng địa lý trong lãnh thổ Brazil);

- ngưỡng đại diện ngành sản xuất trong nước là 25% (thấp hơn nếu các công ty phân tán) để được chấp nhận đơn điều tra CBPG (trước đây là 50%).

- làm sáng tỏ việc tính toán biên độ phá giá riêng rẽ đối với các nhà sản xuất/xuất khẩu mới;

- áp dụng thuế CBPG hồi tố; và

- quy định chuẩn hóa các thủ tục điều tra thực địa.

Theo pháp luật Brazil, các vụ điều tra CBPG và CTC có thể được khởi xướng đồng thời với cùng một sản phẩm. Tuy nhiên, một biện pháp CBPG và một biện pháp CTC không thể được áp đồng thời với một sản phẩm nhất định nhằm mục đích vô hiệu hóa cùng một tình trạng phá giá hoặc trợ cấp xuất khẩu. [9]

Thủ tục điều tra PVTM đã được sửa đổi thêm bởi Luật số 12.995 ngày 18 tháng 6 năm 2014 trong đó quy định cho phép sử dụng các phương thức điện tử và các tài liệu  sử dụng các ngôn ngữ chính thức của WTO.[10] Theo Luật này, tất cả các hành động mang tính thủ tục phải được ký theo phương thức điện tử với một giấy chứng nhận tuân thủ ICP-Brazil.

Để làm cho các cuộc điều tra minh bạch hơn và để tạo thuận lợi cho các bên liên quan nộp và tiếp cận các hồ sơ vụ việc của môt cuộc điều tra, Brazil đã thành lập Hệ thống kỹ thuật số DDS – duy trì bởi DECOM-SECEX theo Quyết định số 58 ngày 29 tháng 7 năm 2015.[11] Theo đó, các thủ tục hành chính liên quan tới các điều tra CBPG có đơn được nộp từ  ngày 31 tháng 7 năm 2015 được triển khai bằng phương thức điện tử, thông qua DDS. Hệ thống này cho phép các đại diện pháp luật được ủy quyền được tiếp cận hồ sơ vụ việc hầu như từ bất cứ nơi nào, và bất cứ khi nào cần, do đó giảm chi phí tham gia trong các vụ việc. Hệ thống này vẫn chưa được mở rộng tới các điều tra CTC và TV. Ngoài ra, năm 2016, Brazil đã phê chuẩn Hiệp ước bãi bỏ yêu cầu chứng nhận hợp pháp đối với các tài liệu công khai của nước ngoài, việc này cũng đơn giản hóa thủ tục nộp tài liệu.

1.4 Các rà soát pháp lý về các quyết định của CAMEX tuân thủ thủ tục chung của Brazil về kháng cáo đối với các hành động của chính phủ. Không có số liệu thống kê về các kháng cáo do thiếu sự thống kê tập trung của tòa án. Chưa có biện pháp PVTM nào của Brazil được đưa ra giải quyết tranh chấp tại WTO trong thời kỳ rà soát (2013-2016).

1.5 Năm 2013, cơ quan điều tra Brazil đã tuyển thêm 47 điều tra viên, nâng tổng số nhân viên lên 65 người. Mục tiêu của những thay đổi về quy định và nhân sự là nhằm (i) giảm thời gian điều tra vụ việc CBPG từ 15 xuống 10 tháng và (ii) cho phép ra quyết định sơ bộ trong vòng 120 ngày kể từ ngày khởi xướng điều tra. Mặc dù số lượng các điều tra viên của Brazil đã giảm kể từ đó, Brazil vẫn có thể đạt được các mục tiêu nêu trên mà không làm ảnh hưởng đến chất lượng của công tác điều tra vốn mang tính kỹ thuật cao.

            2. Lĩnh vực giải quyết tranh chấp

2.1. Brazil giành nhiều ưu tiên cho việc củng cố hệ thống giải quyết tranh chấp của WTO và đã tích cực tham gia vào cơ chế này kể từ vụ tranh chấp đầu tiên của nước này (kiện Hoa Kỳ - xăng). Brazil liên tục bảo vệ lợi ích thương mại của họ và ngăn cản các hạn chế nhập khẩu được cho là vô lý của các nước khác thông qua việc sử dụng có hiệu quả các cơ chế giải quyết tranh chấp đa phương. Tính tới nay, trong số 524 vụ tranh chấp WTO, Brazil tham gia vào 158 vụ trong đó 31 vụ tham gia với tư cách là bên khiếu nại,16 vụ là bên bị đơn và 111 vụ là bên thứ ba. Phần lớn các vụ tranh chấp liên quan đến các vấn đề mấu chốt của Hệ thống thương mại đa phương, như: vấn đề trợ cấp cho cả hàng hóa nông nghiệp (vụ kiện Liên minh Châu Âu -EU - đường và Hoa Kỳ - cotton) và công nghiệp (kiện Canada-máy bay) và vấn đề áp dụng các biện pháp hạn chế thương mại bởi các nước phát triển (Hoa Kỳ- nước cam), vấn đề bảo vệ môi trường (Brazil – lốp xe) và y tế công cộng (EU – Thuốc quá cảnh).

2.2. Hiện nay, Brazil có 5 vụ tranh chấp đang diễn ra với tư cách bên khiếu kiện, hai vụ với tư cách bên bị đơn và 26 vụ với tư cách bên thứ ba. Brazil đang kiện Indonesia đối với việc hạn chế nhập khẩu thịt gà (Indonesia- Thịt gà) và thịt bò (Indonesia- thịt bò) bởi Indonesia, sự trợ cấp của Thái Lan đối với ngành công nghiệp đường của họ (Thái Lan – đường) và của Canada với máy bay (Canada- Máy bay II), cũng như các biện pháp CTC mà Hoa Kỳ áp đặt với các sản phẩm thép của Brazil (Hoa Kỳ- Thép). Brazil là một bị đơn trong vụ Brazil – các biện pháp thuế, vụ việc do Liên minh Châu Âu và Nhật Bản khởi kiện.

Bảng 2. Các vụ giải quyết tranh chấp WTO có liên quan Brazil, tháng 1/2013-tháng 4/2017

Bị đơn

 

 

 

 

 

 

 

 

Một số biện pháp về Thuế và Phí

 

 

Brazil/(EU)

 

 

EU yêu cầu tham vấn với Brazil vào ngày 19 tháng 12 năm 2013. Không giải pháp thỏa hiệp nào đạt được và EU yêu cầu thành lập ban hội thẩm vào 16/3/2015; ban hội thẩm được thành lập vào 26/3/2015

 

 

WT/DS472

 

 

Một số biện pháp về thuế và phí

 

 

Brazil/Nhật

Nhật yêu cầu tham vấn với Brazil vào 2/7/2015. Không giải pháp thỏa hiệp nào đạt được và Nhật yêu cầu thành lập ban hội thẩm vào 17/9/2015; Ban hội thẩm được thành lập vào 29/3/2015

 

 

WT/DS497

 

 

Bên khiếu nại

 

 

 

 

 

 

 

 

Các biện pháp liên quan tới việc nhập khẩu thịt gà và các sản phẩm thịt gà khác

 

 

Indonesia/Brazil

Brazil yêu cầu tham vấn với Indonesia vào 16/10/2014. Không giải pháp thỏa hiệp nào đạt được và Brazil yêu cầu thành lập ban hội thẩm vào 15/10/2015; Indonesia phản đối thành lập ban hội thẩm. Brazil yêu cầu rằng việc thành lập ban hội thẩm được hoãn vào cuộc họp tiếp theo. Ban hội thẩm được thành lập vào 3/3/2015.

 

 

WT/DS484

 

 

Các biện pháp liên quan tới nhập khẩu thịt bò

Indonesia/Brazil

Brazil yêu cầu tham vấn với Indonesia vào ngày 16 tháng 10 năm 2014. Không giải pháp thỏa hiệp nào đạt được và Bazil yêu cầu thành lập ban hội thẩm vào 22/2/2016; ban hội thẩm được thành lập vào 3/3/2016

WT/DS506

 

 

Trợ cấp liên quan tới sản phẩm Đường

Thái Lan/Brazil

Brazil yêu cầu tham vấn với Thái Lan vào 4/4/2016

WT/DS507

 

Biện pháp CTC với Sản phẩm tấm thép nguội và thép cán nóng

 

Hoa Kỳ/

Brazil

 

Brazil yêu cầu tham vấn với Hoa Kỳ vào 11/11/2016

.

 

WT/DS514

 

Trợ cấp máy bay

Canada/Brazil

Brazil yêu cầu tham vấn với Canada vào ngày

8 tháng 2 2017.

 

WT/DS522

 

                                                                                                                                         Nguồn: WTO              

                                                                (Phòng Xử lý các vụ việc phòng vệ thương mại của nước ngoài)



[1] Tài liệu WTO G/ADP/N/294/BRA, 24 tháng 2 năm 2017;và G/ADP/N/237/BRA, 16 tháng 4 năm 2013.

[2] Tài liệu WTO G/SCM/N/305/BRA, 31 tháng 8 năm 2016.

[3] Trong khi DECOM có thể không khởi xướng rà soát nếu không có yêu cầu từ một ngành công nghiệp của Brazil, cơ quan này có thể quyết định đưa vào các nước xuất khẩu bổ sung vào các vụ kiện được khởi xướng thích hợp bất cứ khi nào có đủ thông tin chứng minh quyết định đó.

[4] Từ khi thành lập, GTIP đã khởi xướng 15 cuộc kiểm tra về các biện pháp CBPG trong đó 3 cuộc kiểm tra bị đình chỉ, 1 cuộc bị đình chỉ một phần, và một cuộc điều tra vẫn đang tiến hành.

[5] Quyết định CAMEX số 27 ngày 29 tháng 4 năm 2015

[6] Các câu hỏi và câu trả lời bằng văn bản về các luật và quy định được thông báo nằm trong tài liệu WTO G/ADP/Q1/BRA/21 tới 33 và G/SCM/Q1/BRA/21 tới 33

[7] Tài liệu WTO G/ADP/N/1/BRA/3/Corr.1/ 27 tháng 9 năm 2013.

[8] Các Pháp lệnh của SECEX số 34 (ngày 10 tháng 9 năm 2013), số 36 (19/9/2013), số 41 (11/10/2013), số 42 (17/10/2013), số 44 (29/10/2013) và số 42 (14 tháng 9 năm 2016), thay thế số 37 (18 tháng 9 năm 2013).

[9] Nghị định Số 8.058 (Điều 1) ngày 26 tháng 7 năm 2013

[10] Tài liệu WTO G/ADP/N/1/BRA/3/Suppl.4, G/SCM/N/1/BRA/2/Suppl.11 and G/SG/N/1/BRA/3/Suppl.2, ngày 18 tháng 9 năm 2014

[11] Tài liệu WTO G/ADP/N/1/BRA/3/Suppl.7, 4 tháng 1 năm 2016.

Tìm từ ngày

Tìm đến ngày