Chứng cứ trong điều tra cạnh tranh 21-03-2014

Chứng cứ trong điều tra cạnh tranh

edf40wrjww2News:News_Intro

edf40wrjww2News:News_Content

 1. Điều tra cạnh tranh và chứng cứ

Điều tra là hoạt động nhằm mục đích khám phá sự thật khách quan phục vụ nhu cầu của con người. Trong thực tiễn điều tra có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức, theo các phương pháp khác nhau nhưng tựu chung có hai dạng chính là điều tra xã hội và điều tra tố tụng. Đặc điểm chung của điều tra là quá trình gồm các hoạt động phát hiện, thu thập, củng cố, ghi nhận, thu giữ thông tin, bằng chứng nhằm phục vụ cho một mục đích cụ thể. Thông thường điều tra xã hội chỉ đơn thuần mang tính thu thập thông tin còn điều tra tố tụng đòi hỏi tuân thủ theo một trình tự, thủ tục luật định. Đây chính là hoạt động tố tụng của cơ quan có thẩm quyền nhằm thu thập, củng cố và kiểm tra chứng cứ để làm sáng tỏ sự thật khách quan trong một vụ việc cụ thể.

Điều tra cạnh tranh là một dạng điều tra tố tụng được thực hiện theo một trình tự, thủ tục do pháp luật cạnh tranh quy định. Theo quy định của pháp luật cạnh tranh thì thẩm quyền thực hiện điều tra cạnh tranh thuộc cơ quan quản lý cạnh tranh. Đây là hoạt động của cơ quan quản lý cạnh tranh nhằm thu thập thông tin, xác minh, củng cố và kiểm tra chứng cứ nhằm làm sáng tỏ sự thật khách quan trong một vụ việc cạnh tranh. Nói cách khác điều tra cạnh tranh nhằm chứng minh những tình tiết, sự kiện phản ánh bản chất của vụ việc cạnh tranh. Điều đó cũng có nghĩa điều tra cạnh tranh phải gắn với việc tìm kiếm, thu thập các thông tin chứng cứ. Xét về bản chất, chứng cứ là những thông tin, tài liệu hay những gì có thật được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập, kiểm tra và đánh giá theo quy định của pháp luật nhằm phục vụ cho việc giải quyết đúng đắn một sự việc.

2. Khái niệm và đánh giá xác định chứng cứ trong điều tra cạnh tranh

Khoản 1, Điều 60, Luật cạnh tranh quy định chứng cứ là những gì có thật, được điều tra viên, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi vi phạm quy định của Luật này.

Về cơ bản khái niệm chứng cứ trên đây khá giống với khái niệm chứng cứ trong pháp luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự và tố tụng hành chính. Cũng giống như các loại chứng cứ đó, chứng cứ trong cạnh tranh phải đảm bảo các thuộc tính vốn có gồm tính có thật, hợp pháp và liên quan.

Tính có thật đòi hỏi những thông tin, tài liệu được sử dụng làm chứng cứ trong các vụ việc cạnh tranh phải có thật, mang tính khách quan phản ánh trung thực những tình tiết của vụ việc cạnh tranh. Những thông tin, tài liệu làm chứng cứ tồn tại khách quan trước khi có cuộc điều tra mà không phải là mới được tạo ra một cách giả tạo nhằm phục vụ cho một mục đích nào đó. Những chứng cứ này cũng phải đảm bảo tính chất gốc mà không thể làm lại hay mô phỏng lại.

Tính liên quan đòi hỏi những thông tin, tài liệu làm chứng cứ phải có mối liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến vụ việc cạnh tranh, là cơ sở để xác định sự tồn tại hay không tồn tại của những vấn đề cần chứng minh, là yếu tố cần thiết đảm bảo cho việc giải quyết đúng đắn vụ việc cạnh tranh.

Tính hợp pháp đòi hỏi những thông tin, tài liệu làm chứng cứ phải được thu thập, kiểm tra, đánh giá theo đúng quy định của pháp luật cạnh tranh, tức là phải được thu thập một cách hợp pháp.

Trong quá trình điều tra xử lý các cơ quan hoặc cá nhân có thẩm quyền như cơ quan cạnh tranh, hội đồng cạnh tranh, hội đồng xử lý, các điều tra viên và thành viên hội đồng xử lý có nghĩa vụ phải xem xét, đánh giá các thuộc tính của chứng cứ để quyết định việc sử dụng chứng cứ.

Điều 83, Nghị định số 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15/09/2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh (Nghị định 116) quy định cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải đánh giá từng chứng cứ, đánh giá sự liên quan giữa các chứng cứ và khẳng định giá trị pháp lý của từng chứng cứ. Việc đánh giá chứng cứ phải khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác.

Có thể nói đánh giá chứng cứ là hoạt động tư duy lôgíc được tiến hành dựa trên cơ sở các quy định của pháp luật và ý thức pháp luật. Mục đích của việc đánh giá chứng cứ nhằm (1) xác định tính xác thực, độ tin cậy và giá trị của chứng cứ, (2) xác định khả năng sử dụng của từng chứng cứ, (3) xác định tính chất, ý nghĩa và mức độ liên quan giữa các chứng cứ, (4) xác định giá trị của từng chứng cứ trong việc chứng minh làm sáng tỏ sự việc, và (5) xác định hướng sử dụng tiếp theo. Để đạt được điều đó cần thực hiện so sánh, đối chiếu giữa các chứng cứ đã thu thập được với các tình tiết của vụ việc để xem xét tính phù hợp hay mâu thuẫn. Việc xác định tính phù hợp hoặc mâu thuẫn giữa các chứng cứ trong cùng một vụ việc nhằm làm căn cứ, cơ sở để quyết định việc tiếp tục điều tra, thu thập thêm chứng cứ mới.

Yêu cầu đầu tiên của việc đánh giá chứng cứ là cần xác định tính có thật, khách quan của từng chứng cứ. Điều này phải được thực hiện một cách cẩn trọng nhằm đạt được kết quả tốt nhất vì nếu không xác định được tính xác thực hay có thật của chứng cứ thì không thể nói tới giá trị chứng minh của chứng cứ đó. Vì vậy, điều tra viên khi thực hiện điều tra phải xác định xem chứng cứ được sử dụng ở nguồn nào, xuất phát từ đâu và thu thập như thế nào. Đồng thời cũng phải đánh giá xem chứng cứ đó trong mối liên hệ với các chứng cứ khác như thế nào, liên hệ trực tiếp hay gián tiếp, có bổ sung hỗ trợ gì cho nhau không. Việc xác định rõ mối liên hệ giữa các chứng cứ và sử dụng chúng một cách phù hợp là nhiệm vụ quan trọng để đảm bảo làm rõ nội dung vụ việc.

Sau khi xác định tính xác thực, việc tiếp theo là xem xét giá trị chứng minh của từng chứng cứ. Tức là xác định xem chứng cứ đó liên quan và có khả năng làm rõ được những tình tiết nào trong vụ việc, chứng minh được những nội dung gì và có đủ cơ sở để đưa ra kết luận cuối cùng về nội dung đó hay không. Vì vậy, đánh giá và xác định giá trị chứng minh của chứng cứ có vai trò rất quan trọng.

Ngoài ra, khi đánh giá chứng cứ cũng phải xem xét giá trị pháp lý hay tính hợp pháp của từng chứng cứ. Chứng cứ phải được phản ánh từ các nguồn do pháp luật thừa nhận và được thu thập bằng các biện pháp phù hợp với các quy định của pháp luật. Cho dù có đủ thuộc tính khách quan và liên quan nhưng nguồn và biện pháp thu thập thông tin, tài liệu không phù hợp với quy định của pháp luật thì không thể được dùng làm chứng cứ.

3. Xác định nguồn gốc chứng cứ trong điều tra cạnh tranh

Theo Khoản 2, Điều 60, Luật cạnh tranh và Điều 76, Nghị định 116, chứng cứ được xác định từ các nguồn gồm vật chứng; lời khai của người làm chứng và giải trình của các tổ chức, cá nhân liên quan; các tài liệu hoặc biên bản, kết luận giám định. Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện vi phạm, tiền và những vật khác có giá trị chứng minh cho hành vi vi phạm. Vật chứng dùng làm chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc. Lời khai của người làm chứng, giải trình của tổ chức, cá nhân liên quan được coi là chứng cứ nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình và các thiết bị ghi âm, ghi hình khác kèm theo văn bản xác nhận về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu hình đó, hoặc khai bằng lời tại phiên điều trần. Tài liệu gốc, bản sao tài liệu gốc, bản dịch tài liệu gốc được công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền cung cấp, xác nhận được coi là chứng cứ nếu là tài liệu đọc được nội dung. Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định.

Có thể nói điều tra cạnh tranh là hoạt động mang tính đặc thù nên chứng cứ trong cạnh tranh cũng có điểm khác biệt. Thứ nhất, trong các vụ việc cạnh tranh vật chứng thường xuất hiện ít hơn các dạng chứng cứ khác. Thứ hai, thực tiễn cho thấy chứng cứ được sử dụng trong các vụ việc cạnh tranh không bị giới hạn bởi các nguồn chứng cứ quy định tại Điều 76 trên đây. Trong nhiều vụ việc cạnh tranh đòi hỏi phải xác định thị trường liên quan, xác minh thị phần, thị phần kết hợp của các doanh nghiệp trên thị trường liên quan để xác định hành vi vi phạm hoặc xác định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường. Trong trường hợp đó, các thông tin trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp như doanh thu, doanh số được sử dụng làm chứng cứ để xác định thị phần, thị phần kết hợp hay xác định vị trí của doanh nghiệp.

4. Những loại chứng cứ cần thu thập trong điều tra cạnh tranh

Do tính đặc thù của các vụ việc cạnh tranh nên có những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh. Điều 75, Nghị định 116 quy định những tình tiết, sự kiện không phải chứng minh là những tình tiết, sự kiện rõ ràng mà mọi người đều biết và được cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh thừa nhận; những tình tiết, sự kiện thích hợp đã được xác định trong các bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh của cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật; những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp.

Những tình tiết, sự kiện ngoài những tình tiết, sự kiện đáp ứng được yêu cầu trên đây thì cần thu thập chứng cứ để chứng minh. Chứng cứ cần thu thập phụ thuộc vào từng vụ việc cụ thể trên cơ sở xem xét hành vi cạnh tranh bất hợp pháp là gì, chủ thể vi phạm là ai, chủ thể có thỏa mãn điều kiện luật định hay không, mức độ của hành vi vi phạm và trách nhiệm pháp lý như thế nào. Trên cơ sở đó mà chứng cứ cần thu thập trong các vụ việc cạnh tranh thường bao gồm chứng cứ về hành vi, chứng cứ xác định chủ thể và điều kiện chủ thể, chứng cứ xác minh thị trường, và chứng cứ xác định trách nhiệm pháp lý.

Chứng cứ về hành vi là những chứng cứ được dùng để chứng minh hành vi vi phạm hoặc không vi phạm các quy định của pháp luật cạnh tranh của một đối tượng chủ thể nhất định. Điều 89, Luật cạnh tranh quy định đối với vụ việc thoả thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị tri thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền hoặc tập trung kinh tế, nội dung điều tra gồm việc thu thập và phân tích chứng cứ về hành vi vi phạm đối với vụ việc cạnh tranh không lành mạnh, điều tra viên phải xác định căn cứ cho rằng bên bị điều tra đã hoặc đang thực hiện hành vi cạnh tranh không lành mạnh. Do vậy, thu thập chứng cứ chứng minh hành vi là yêu cầu bắt buộc đầu tiên đối với điều tra viên trong quá trình điều tra. Việc có thu thập được chứng cứ chứng minh hành vi hay không sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả điều tra và quyết định sự thành công của toàn bộ quá trình điều tra. Chứng cứ chứng minh hành vi cũng là cơ sở để điều tra viên đưa ra quyết định về việc tiếp tục hoặc dừng việc điều tra nếu không muốn tiêu tốn vô ích các nguồn lực.

Chứng cứ xác định chủ thể và điều kiện chủ thể rất phong phú và đa dạng bao gồm các loại thông tin, tài liệu chứng minh cho sự tồn tại thực sự của các chủ thể là đối tượng điều tra trong vụ việc cạnh tranh, chứng minh cho sự tham gia hay liên quan của những đối tượng này vào các hành vi vi phạm, chứng minh cho mức thị phần chiếm giữ hoặc thị phần kết hợp của nhóm doanh nghiệp trong những vụ việc đòi hỏi phải xác định các tiêu chí thị phần nhằm xác định tính hợp pháp hay bất hợp pháp của hành vi. Các chứng cứ xác định chủ thể và điều kiện chủ thể cũng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong các vụ việc cạnh tranh bởi chỉ khi xác định được chính xác những chủ thể có hành vi vi phạm theo đúng quy định của pháp luật cạnh tranh thì mới có khả năng áp dụng được các biện pháp xử lý đúng đắn và phù hợp để đảm bảo và tăng cường tính khả thi của pháp luật cạnh tranh.

Chứng cứ xác minh thị trường là những chứng cứ được sử dụng để xác định thị trường liên quan trong những vụ việc cạnh tranh đòi hỏi phải xác định thị trường liên quan. Đó là những vụ việc liên quan đến các hành vi thoả thuận, lạm dụng hay tập trung kinh tế trong đó yêu cầu phải xác định thị trường liên quan nhằm làm cơ sở cho việc xác định mức thị phần hay thị phần kết hợp của các doanh nghiệp để kết luận về tính hợp pháp hay bất hợp pháp của hành vi. Chứng cứ xác minh thị trường thường bao gồm rất nhiều loại khác nhau như các thông tin, tài liệu nhằm xác định đặc tính, mục đích sử dụng, giá cả của hàng hoá hay dịch vụ hay các thông tin nhằm khoanh vùng các khu vực địa lý liên quan nằm trong phạm vi hay khuôn khổ của cuộc điều tra.

Chứng cứ xác định trách nhiệm pháp lý là những chứng cứ làm cơ sở cho việc đưa ra một biện pháp xử lý phù hợp nhất đảm bảo sự tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi vi phạm. Điều 7, Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh quy định khi xác định mức độ xử lý đối với từng hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh, cơ quan có thẩm quyền có quyền căn cứ vào một hoặc một số yếu tố gồm (1) mức độ gây hạn chế cạnh tranh do hành vi vi phạm gây ra, (2) mức độ thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra, (3) khả năng gây hạn chế cạnh tranh của các đối tượng vi phạm, (4) thời gian thực hiện hành vi vi phạm, (5) khoản lợi nhuận thu được từ việc thực hiện hành vi vi phạm, (6) các tình tiết giảm nhẹ, tình tiết tăng nặng. Vì vậy, sau khi xác định được đối tượng và chứng minh được hành vi vi phạm thì điều tra viên cũng cần thu thập các chứng cứ nhằm xác định mức độ xử lý theo các tiêu chí đã được quy định.

Khi thực hiện việc thu thập các loại chứng cứ trên đây các điều tra viên cần lưu ý chỉ được sử dụng các biện pháp và tuân theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Không được làm sai lệch hồ sơ tài liệu, cố tình bỏ ra ngoài hồ sơ những chứng cứ quan trọng, thêm bớt hoặc sửa chữa hồ sơ tài liệu hay chứng cứ làm ảnh hưởng đến việc giải quyết đúng đắn vụ việc cạnh tranh. Việc thu thập chứng cứ cũng cần phải được thực hiện một cách kịp thời, nhanh chóng và đầy đủ.

5. Nghĩa vụ chứng minh và việc thu thập chứng cứ

Việc thu thập chứng cứ trong quá trình điều tra phụ thuộc vào nghĩa vụ chứng minh theo quy định của pháp luật cạnh tranh. Điều 74, Nghị định 116 quy định bên khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập phải đưa ra chứng cứ để chứng minh cho khiếu nại, yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Bên phản đối khiếu nại, yêu cầu của người khác đối với mình có quyền chứng minh sự phản đối đó là có căn cứ và phải đưa ra chứng cứ để chứng minh. Cơ quan quản lý cạnh tranh có nghĩa vụ chứng minh hành vi vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong trường hợp tự khởi xướng điều tra khi phát hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong thời hạn hai năm kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện.

Theo quy định trên, bên khiếu nại có nghĩa vụ thu thập chứng cứ để cung cấp cho cơ quan cạnh tranh khi thực hiện khiếu nại. Cơ quan cạnh tranh có nghĩa vụ thẩm định và xem xét hồ sơ khiếu nại và thực hiện các biện pháp điều tra cần thiết nhằm xác minh các tình tiết, sự kiện trong hồ sơ khiếu nại và thu thập thêm các chứng cứ cần thiết khác nhằm đưa ra kết luận chính xác về vụ việc.

Còn trong trường hợp phát hiện dấu hiệu về hành vi vi phạm và khởi xướng một cuộc điều tra thì cơ quan cạnh tranh có nghĩa vụ thu thập chứng cứ. Khi thu thập chứng cứ cơ quan cạnh tranh sẽ thực hiện những quyền năng cơ bản được pháp luật cạnh tranh quy định cho phép gồm quyền yêu cầu các bên liên quan cung cấp thông tin và giải trình, quyền thực hiện khám xét, quyền thực hiện thẩm vấn lấy lời khai.

Liên quan đến việc yêu cầu các bên liên quan giải trình và cung cấp thông tin chứng cứ, Điều 32, Luật cạnh tranh quy định cơ quan quản lý cạnh tranh có quyền yêu cầu tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp thông tin về thoả thuận hạn chế cạnh tranh, tập trung kinh tế đang được cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu của cơ quan quản lý cạnh tranh, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm trả lời bằng văn bản về các vấn đề được yêu cầu. Cũng liên quan đến vấn đề này, Điều 77, Luật cạnh tranh quy định khi tiến hành tố tụng cạnh tranh điều tra viên có quyền (1) yêu cầu tổ chức, cá nhân liên quan cung cấp thông tin cần thiết và các tài liệu có liên quan đến vụ việc cạnh tranh, (2) yêu cầu bên bị điều tra cung cấp tài liệu, giải trình liên quan đến vụ việc bị điều tra, (3) kiến nghị Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh trưng cầu giám định.

Cùng với quyền yêu cầu giải trình và cung cấp thông tin chứng cứ của cơ quan cạnh tranh, điều tra viên là nghĩa vụ cung cấp thông tin chứng cứ của bên khiếu nại, bên bị điều tra theo đó điểm a, Khoản 3, Điều 66, Luật cạnh tranh quy định bên bị điều tra, bên khiếu nại có nghĩa vụ cung cấp đầy đủ, trung thực, chính xác, kịp thời những chứng cứ cần thiết liên quan đến kiến nghị, yêu cầu của mình. Bên cạnh đó, theo quy định tại Điều 77, Nghị định 116 thì các bên liên quan có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ cho cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh trong quá trình điều tra, giải quyết vụ việc cạnh tranh. Việc giao nộp chứng cứ phải được lập biên bản ghi rõ tên gọi, hình thức, nội dung, đặc điểm của chứng cứ; số bản, số trang của chứng cứ và thời gian nhận; chữ ký hoặc điểm chỉ của người giao nộp và chữ ký của người nhận và dấu của cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh. Biên bản phải lập thành hai bản, một bản lưu vào hồ sơ vụ việc cạnh tranh và một bản giao cho bên nộp chứng cứ giữ.

Trong các vụ việc cạnh tranh, cơ quan cạnh tranh thường tận dụng một cách triệt để quyền yêu cầu các bên giải trình và cung cấp thông tin chứng cứ. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp các bên được yêu cầu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng, không đủ thì cơ quan cạnh tranh có thể thực hiện việc lấy lời khai. Điều 78, Nghị định 116 quy định điều tra viên, thành viên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh tiến hành lấy lời khai của bên khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khi họ chưa có bản giải trình hoặc nội dung bản giải trình chưa đầy đủ, rõ ràng. Bên khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng phải tự viết bản khai và ký tên của mình. Trong trường hợp bên khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không thể tự viết được thì điều tra viên, thành viên Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh lấy lời khai của họ. Người lấy lời khai tự mình hoặc thư ký phiên điều trần ghi lại lời khai của bên khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vào biên bản. Biên bản ghi lời khai phải được người khai tự đọc lại hay nghe đọc lại và ký tên hoặc điểm chỉ. Người khai có quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung vào biên bản ghi lời khai và ký tên hoặc điểm chỉ xác nhận. Biên bản phải có chữ ký của người lấy lời khai, người ghi biên bản và đóng dấu của cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh; nếu biên bản được ghi thành nhiều trang rời nhau thì phải ký vào từng trang và đóng dấu giáp lai. Việc lấy lời khai của bên khiếu nại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng là người chưa thành niên hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự phải được tiến hành với sự có mặt của người đại diện hợp pháp của người đó. Biên bản ghi lời khai của bên khiếu nại, bên bị điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được coi là bộ phận không tách rời của bản giải trình của những người này.

Ngoài ra, Điều 88, Nghị định 116 quy định trong những trường hợp đặc biệt cần thiết, để ngăn chặn kịp thời vi phạm pháp luật về cạnh tranh hoặc để bảo đảm việc xử lý vụ việc cạnh tranh, người có thẩm quyền có thể áp dụng một trong những biện pháp ngăn chặn hành chính trong điều tra, xử lý vụ việc cạnh tranh bao gồm khám người; khám phương tiện vận tải, đồ vật; khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện vi phạm pháp luật về cạnh tranh.

Cũng cần lưu ý rằng thông thường số lượng thông tin, chứng cứ trong các vụ việc cạnh tranh khá nhiều, rất phong phú và đa dạng trong khi nhân lực điều tra thường khá hạn chế vì vậy phải vận dụng một cách linh hoạt những yêu cầu và thời gian đặt ra của các quá trình điều tra sơ bộ, điều tra chính thức theo quy định tại các điều từ Điều 86 đến Điều 90, Luật cạnh tranh. Theo quy định thì thời hạn điều tra chính thức và sơ bộ có sự khác nhau và yêu cầu trong điều tra chính thức và điều tra sơ bộ cũng khác nhau nên điều tra viên phải có sự phân bổ thời gian và sức lực một cách hợp lý và khoa học nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong quá trình điều tra.

6. Ý nghĩa và việc sử dụng chứng cứ trong quá trình tố tụng

Có thể nói chứng cứ có ý nghĩa hết sức quan trọng trong suốt quá trình tố tụng cạnh tranh. Căn cứ trên cơ sở các chứng cứ được cung cấp hay thu thập được mà cơ quan cạnh tranh có thể đưa ra những quyết định thích hợp.

Trước hết có thể khẳng định chứng cứ là điều kiện bắt buộc phải có để thực hiện quyền khiếu nại bởi Điều 58, Luật cạnh tranh và Điều 45, Nghị định 116 quy định tổ chức, cá nhân cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm hại do hành vi vi phạm quy định của Luật này có quyền khiếu nại đến cơ quan quản lý cạnh tranh. Hồ sơ khiếu nại phải có những tài liệu chủ yếu gồm đơn khiếu nại theo mẫu của cơ quan quản lý cạnh tranh, chứng cứ về hành vi vi phạm để chứng minh đơn khiếu nại là có căn cứ và hợp pháp. Bên khiếu nại phải chịu trách nhiệm về tính trung thực của các chứng cứ đã cung cấp cho cơ quan quản lý cạnh tranh.

Thứ hai, chứng cứ đầy đủ, hợp lệ là cơ sở cho việc thụ lý hồ sơ khiếu nại bởi Điều 59, Luật cạnh tranh quy định cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thụ lý hồ sơ khiếu nại. Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ khiếu nại, cơ quan quản lý cạnh tranh có trách nhiệm thông báo bằng văn bản cho bên khiếu nại về việc thụ lý hồ sơ. Và Điều 47, Nghị định 116 quy định sau khi nhận hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh đầy đủ, hợp lệ, cơ quan quản lý cạnh tranh phải thông báo ngay cho bên khiếu nại nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh trừ trường hợp được miễn tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo của cơ quan quản lý cạnh tranh, bên khiếu nại phải nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh. Cơ quan quản lý cạnh tranh thụ lý hồ sơ khiếu nại vụ việc cạnh tranh sau khi nhận đươc biên lai nộp tiền tạm ứng chi phí xử lý vụ việc cạnh tranh.

Thứ ba, chứng cứ là cơ sở để cơ quan cạnh tranh xem xét, cân nhắc khởi xướng điều tra bởi Điều 65 và Điều 86, Luật cạnh tranh quy định việc điều tra sơ bộ vụ việc cạnh tranh được tiến hành theo quyết định của Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh trong trường hợp cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện có dấu hiệu vi phạm quy định của Luật này. Bên bị điều tra là doanh nghiệp bị cơ quan quản lý cạnh tranh phát hiện là đang hoặc đã thực hiện hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh trong thời hạn hai năm, kể từ ngày hành vi có dấu hiệu vi phạm pháp luật về cạnh tranh được thực hiện. Để xác định được dấu hiệu về hành vi vi phạm theo các quy định này thì cơ quan cạnh tranh phải thu thập được một lượng nào đó các thông tin, chứng cứ ban đầu.

Thứ tư, chứng cứ không đầy đủ là cơ sở để Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh bởi Điều 101, Luật cạnh tranh quy định Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh quyết định đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh thuộc thẩm quyền giải quyết của Hội đồng cạnh tranh trong trường hợp Thủ trưởng cơ quan quản lý cạnh tranh đề nghị đình chỉ giải quyết vụ việc cạnh tranh trong trường hợp không đủ chứng cứ chứng minh hành vi vi phạm quy định của Luật này và Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh xét thấy đề nghị đó là xác đáng.

Thứ năm, chứng cứ chưa đủ để xác định hành vi vi phạm là cơ sở để Hội đồng cạnh tranh yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổ sung vì Điều 100, Luật cạnh tranh quy định trường hợp nhận thấy các chứng cứ thu thập được chưa đủ để xác định hành vi vi phạm quy định của Luật này, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

Thứ sáu, chứng cứ đã được thu thập đầy đủ để xác định hành vi vi phạm là cơ sở để Hội đồng cạnh tranh tiến hành điều trần và ra quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh bởi Điều 99, Luật cạnh tranh quy định sau khi nhận được báo cáo điều tra và toàn bộ hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Chủ tịch Hội đồng cạnh tranh quyết định thành lập Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh và trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận hồ sơ vụ việc cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh phải ra quyết định mở phiên điều trần nếu các chứng cứ đã được thu thập đầy đủ.

7. Vấn đề chứng cứ điện tử trong các vụ việc cạnh tranh

Cùng với sự phát triển của công nghệ và khoa học máy tính cùng với những tính năng ưu việt đã thúc đẩy việc áp dụng rộng khắp công nghệ và khoa học này trong kinh doanh. Vì vậy, rất nhiều loại thông tin, tài liệu, số liệu hay kết quả kinh doanh cũng như nhiều giao dịch giữa các chủ thể kinh doanh trên thị trường được lưu giữ ở dạng dữ liệu điện tử. Và trong nhiều trường hợp những thông tin, tài liệu được lưu giữ ở dạng điện tử này trở thành những chứng cứ quan trọng trong các vụ việc cạnh tranh. Do vậy, có thể khái quát chứng cứ điện tử là những chứng cứ được lưu giữ dưới dạng tín hiệu điện tử trong máy tính hoặc trong các thiết bị có bộ nhớ kỹ thuật số.

Nhằm đáp ứng những điều kiện phát triển mới, pháp luật Việt Nam đã quy định và công nhận giá trị của chứng cứ điện tử. Luật giao dịch điện tử năm 2005 công nhận giá trị pháp lý của thông điệp điện tử bằng việc quy định thông tin trong thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị pháp lý chỉ vì thông tin đó được thể hiện dưới dạng thông điệp dữ liệu (Điều 11). Luật này cũng quy định trường hợp thông điệp điện tử có giá trị như văn bản, theo đó trường hợp pháp luật yêu cầu thông tin phải được thể hiện bằng văn bản thì thông điệp dữ liệu được xem là đáp ứng yêu cầu này nếu thông tin chứa trong thông điệp dữ liệu đó có thể truy cập và sử dụng được để tham chiếu khi cần thiết (Điều 12), và quy định thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc, theo đó thông điệp dữ liệu có giá trị như bản gốc khi đáp ứng được các điều kiện gồm nội dung của thông điệp dữ liệu được bảo đảm toàn vẹn kể từ khi được khởi tạo lần đầu tiên dưới dạng một thông điệp dữ liệu hoàn chỉnh (Nội dung của thông điệp dữ liệu được xem là toàn vẹn khi nội dung đó chưa bị thay đổi, trừ những thay đổi về hình thức phát sinh trong quá trình gửi, lưu trữ hoặc hiển thị thông điệp dữ liệu); nội dung của thông điệp dữ liệu có thể truy cập và sử dụng được dưới dạng hoàn chỉnh khi cần thiết (Điều 13). Đặc biệt Luật này khẳng định thông điệp dữ liệu có giá trị làm chứng cứ, theo đó thông điệp dữ liệu không bị phủ nhận giá trị dùng làm chứng cứ chỉ vì đó là một thông điệp dữ liệu. Giá trị chứng cứ của thông điệp dữ liệu được xác định căn cứ vào độ tin cậy của cách thức khởi tạo, lưu trữ hoặc truyền gửi thông điệp dữ liệu; cách thức bảo đảm và duy trì tính toàn vẹn của thông điệp dữ liệu; cách thức xác định người khởi tạo và các yếu tố phù hợp khác (Điều 14).

Thực tiễn trong điều tra cạnh tranh ở nhiều nước trên thế giới cho thấy chứng cứ điện tử ngày càng xuất hiện nhiều theo sự phát triển của khoa học công nghệ. Vì vậy, hoạt động điều tra cạnh tranh cũng cần điều chỉnh linh động để thích ứng với sự phát triển đó. Sự xuất hiện ngày càng nhiều của các dạng chứng cứ điện tử trong các vụ việc cạnh tranh đòi hỏi các điều tra viên phải không ngừng nâng cao kỹ năng và trình độ để có thể đáp ứng được yêu cầu đặt ra khi thực hiện việc thu thập và xử lý chứng cứ điện tử trong quá trình điều tra các vụ việc cạnh tranh. Đây cũng là đòi hỏi cấp thiết của các điều tra viên trong cơ quan cạnh tranh hiện nay. Liên quan đến chứng cứ điện tử trong các vụ việc cạnh tranh hiện nay có rất nhiều vấn đề được đặt ra và phải có hướng giải quyết đó là vấn đề thu thập các thông tin, chứng cứ điện tử như thế nào, việc chuyển hóa các chứng cứ điện tử đó như thế nào để có thể sử dụng chúng trong quá trình tố tụng cạnh tranh.

8. Việc công bố và sử dụng chứng cứ

Trong điều tra cạnh tranh bên cạnh việc thu thập thì cơ quan cạnh tranh cũng bị yêu cầu phải công bố và sử dụng chứng cứ. Điều 84, Nghị định 116 quy định mọi chứng cứ được công bố và sử dụng công khai như nhau. Cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh không công bố và sử dụng công khai các chứng cứ thuộc bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật; chứng cứ liên quan tới thuần phong mỹ tục, bí mật nghề nghiệp, bí mật kinh doanh, bí mật đời tư của cá nhân theo yêu cầu chính đáng của bên liên quan. Trường hợp xét thấy cần thiết, cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh có quyền chỉ công bố và sử dụng công khai một số chứng cứ vào thời điểm thích hợp nhằm đảm bảo cho việc điều tra và xử lý được vụ việc cạnh tranh. Người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải giữ bí mật theo quy định của pháp luật những chứng cứ thuộc trường hợp không công bố và sử dụng công khai.

9. Kết luận

Có thể nói việc thu thập đầy đủ chứng cứ là yêu cầu bắt buộc trong điều tra cạnh tranh. Để quá trình điều tra các vụ việc cạnh tranh đạt được kết quả tốt đòi hỏi các điều tra viên phải nắm chắc và không ngừng nâng cao kỹ năng tìm kiếm, thu thập và xử lý chứng cứ. Bên cạnh các kỹ năng nhận biết, đánh giá tính liên quan và giá trị chứng minh của chứng cứ, xác định nguồn gốc của chứng cứ thì các kỹ năng phân loại, sử dụng chứng cứ cũng rất quan trọng. Đặc biệt cùng với sự phát triển của công nghệ và khoa học máy tính thì vấn đề đặt ra hiện nay là các điều tra viên cần nâng cao năng lực, nghiệp vụ và các kỹ năng thu thập, xử lý các loại chứng cứ điện tử phục vụ cho điều tra cạnh tranh.

Phùng Văn Thành
(Phòng Điều tra vụ việc hạn chế cạnh tranh)

  • Tags:

Tìm từ ngày

Tìm đến ngày